Mỗ giáo lớn - 5 tuổi

GIÁO DỤC MẦM NOM 5 ĐẾN 6 TUỔI   PHẦN 1A – MỤC TIÊU GIÁO DỤC VÀ HƯỚNG DẪN THỰC HIỆN CHẾ ĐỘ SINH HOẠT MỤC TIÊU GIÁO DỤCPHÁT TRIỂN THỂ CHẤTCân nặng và chiều cao nằm trong kênh A cụ thể:Trẻ trai: cân nặng từ 16,0 – 26,6kg; chiều cao từ 106,4 – 125,8cmTrẻ gái: cân nặng từ 15,0 – 26,2kg; chiều cao từ 104,8 – 124,5cmĐi nối gót giật lùi 5 bướcChạy 18m trong khoảng 10 giâyChạy đổi hướng theo hiệu lệnhBò theo đường dích dắcNém xa 4m bằng hai tayBật xa 50 – 60cmCắt được đường trònCó thói quen rửa tay bằng xà phòng trước khi ăn, khi tay bẩn và sau khi đi vệ sinh.Biết tự đánh răng, lau mặt.Biết tránh xa những vật dụng nguy hiểm, nơi không an toàn. PHÁT TRIỂN NHẬN THỨCThích tìm hiểu khám phá môi trường xung quanh. Hay đặt câu hỏi: tại sao? Để làm gì? Làm thế nào? Khi nào?Phân biệt bản thân với bạn cùng tuổi.Phân loại được một số đối tượng theo 2 -3 dấu hiệu cho trước. Tự tìm ra dấu hiệu phân loại.Nhận biết được phía phải, phía phải của người khác.Phân biệt được hôm qua, hôm nay, ngày mai.Có biểu tượng về số trong phạm vi 10,thêm bớt trong phạm vi 10.Phân biệt các hình vuông, hình tròn, hình tam giác, hình chữ nhật qua các đặc điểm nổi bật.So sánh và sử dụng được các từ: To nhất – nhỏ hơn – nhỏ nhất; cao nhất – thấp hơn – thấp nhất; rộng nhất – hẹp hơn – hẹp nhất; nhiều nhất – ít hơn – ít nhất.Phân biệt một số công cụ, sản phẩm, công việc, ý nghĩa của một số nghề phổ biến, nghề truyền thống ở địa phương.Biết được một số công việc của các thành viên trong gia đình, của giáo viên và trẻ trong lớp, trường mầm non.Nhận biết được vài nét đặt trưng về danh lam thắng cảnh của địa phương và quê hương đất nước PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮNhận dạng được các chữ cái và phát âm được các âm đóDiễn đạt được mong muốn, nhu cầu và suy nghĩ bằng nhiều loại câu.Hiểu được một số từ trái nghĩaTham gia có sáng tạo trong các hoạt động ngôn ngữ: đóng kịch, kể chuyện…“Đọc” và sao chép được một số kí hiệu.Mạnh dạng, tự tin, chủ động trong giao tiếp. PHÁT TRIỂN TÌNH CẢM – XÃ HỘIHợp tác, chia sẻ với bạn bè trong các hoạt động.Có hành vi ứng xử đúng với bản than và mọi người xung quanh.Có hành vị, thái độ thể hiện sự quan tâm đến những người gần gũi.Vui vẻ nhận và thực hiện công việc được giao đến cùng.Thực hiện một số quy định trong gia đình, trường lớp mầm non, nơi công cộng.Giữ gìn và bảo vệ mội trường: bỏ rác đúng nơi quy định, chăm sóc các con vật nuôi, cây cảnh, giữ gìn đồ chơi, đồ dùng, có ý thức tiết kiệm.   PHẦN HAIHƯỚNG DẪN THỰC HIỆN NUÔI DƯỠNG VÀ CHĂM SÓC SỨC KHỎE   Nước uốngHằng ngày trẻ cần được uống nước đầy đủ, nấht là về mùa hè.Lượng nước cần đưa vào cơ thể trẻ ( dưới dạng nước uống, thức ăn, hoa quả) từ 1,6 – 2 lít nước một ngàyNước uống cần đun sôi kĩ và đựng trong bình hay ấm có nắp đậy kín. Mỗi trẻ có một cốc riêng. Mùa đông cần ủ nước cho ấm. Mùa hè, nếu có điều kiện nên cho trẻ uống nước nấu bằng các loại lá như sài đất, râu ngô, bông mã đề, kim ngân hoa,… hoặc nước quả ( dâu, chanh, cam).Giáo viên cho trẻ uống theo nhu cầu và chia làm nhiều lần trong ngày, hướng dẫn trẻ tự lấy cốc uống nước, uống xong úp cốc đúng nơi quy định. Không để trẻ quá khát mới uống hoặc uống một lần quá. Không để trẻ uống nhiều nước trước bữa ăn. CHĂM SÓC BỮA ĂN:Trước khi ăn- Hướng dẫn trẻ rửa sạch tay, đeo yếm trước khi ăn (nếu có).- Hướng dẫn trẻ sắp xếp bàn ghế, cho 4 – 6 trẻ ngồi một bàn, có lối đi quanh bàn dễ dàng.- Chuẩn bị khăn mặt, bát, thìa, cốc uống nước đầy đủ cho số lượng trẻ.- Trước khi chia thức ăn, cô cần rửa tay sạch, quần áo và đầu tóc gọn gàng. Cô chia thức ăn và cơm ra từng bát, trộn đều, không để trẻ chờ lâu.Trong khi ăn- Giáo viên cần vui vẻ, nói năng dịu dàng, tạo không khí thoải mái cho trẻ trong khi ăn. Động viên, khuyến khích trẻ ăn hết suất, kết hợp giáo dục dinh dưỡng, hành vi vệ sinh văn minh trong ăn uống: dạy cho trẻ biết mời cô và các bạn trước khi bắt đầu ăn; ngồi ăn ngay ngắn, không co chân lên ghế; cầm thìa bằng tay phải và tự xúc ăn một cách gọn gang, tránh đổ vãi; ăn từ tốn, nhai kĩ, không nói chuyện và đùa nghịch trong khi ăn…- Giáo viên cần chăm sóc, quan tâm hơn với trẻ mới đến lớp, trẻ yếu hoặc mới ốm dạy. Nếu thấy trẻ ăn kém, cô cần tìm hiểu nguyên nhân để báo cho nhà bếp hoặc y tế hay bố mẹ biết để chủ động chăm sóc trẻ tốt hơn. Đối với trẻ xúc chưa thạo, ăn chậm hoặc biếng ăn, cô có thể giúp trẻ xúc và động viên trẻ ăn khẩn trương hơn. Có biện pháp phòng tránh hóc sặc trong khi trẻ ăn.Sau khi ănHướng dẫn trẻ xếp bát, thìa, ghế vào nơi quy định, uống nước, lau miệng, lau tay sau khi ăn, đi vệ sinh (nếu trẻ có nhu cầu). CHĂM SÓC GIẤC NGỦChuẩn bị trước khi trẻ ngủ- Trước kh trẻ ngủ, cô nhắc nhở trẻ đi vệ sinh, hướng dẫn trẻ tự lấy gối, chăn…- Bố trí chỗ ngủ cho trẻ sạch sẽ, yên tĩnh, thoáng mát về mùa hè, ấm áp về mùa đông. Phòng ngủ nên giảm ánh sáng bằng cách đóng bớy một số cửa sổ hoặc tắc bớt đèn.- Khi đã ổn định chỗ ngủ, cô có thể hát hoặc cho trẻ nghe những bài hát ru, dân ca êm dịu để trẻ dễ đi vào giấc ngủ. Với những cháu khó ngủ, cô gần gũi, vỗ về trẻ giúp trẻ yên tâm, dễ ngủ hơn. Theo dõi trẻ ngủ- Trong thời gian trẻ ngủ, cô phải thường xuyên có mặt để theo dõi trẻ, không để trẻ úp mặt vào gối hoặc trùm chăn kín, sửa lại tư thế để trẻ ngủ thoải mái (nếu thấy cần thiết).- Khi trẻ ngủ: về mùa hè, nếu dùng quạt điện chú ý vận tốc vừa phải và để xa, từ phía chân trẻ; nếu dùng điều hòa nhiệt độ không nên để nhiệt độ lạnh quá. Mùa đông chú ý đắp chăn ấm cho trẻ, không nên để trẻ mặc quá nhiều quần áo. Cho phép trẻ đi vệ sinh nếu trẻ có nhu cầu.- Quan sát, phát hiện kịp thời và xử lý các tình huống có thể xảy ra trong khi trẻ ngủ.Chăm sóc sau khi trẻ thức dậy- Không nên đánh thức trẻ dậy đồng loạt, trẻ nào thức giấc trước cô cho dậy trước, tránh đánh thức cùng một lúc ảnh hưởng đến các trẻ khác và sinh hoạt của lớp. Không nên đánh thức trẻ dậy sớm trước khi trẻ tự thức giấc vì dễ làm cho trẻ cáu kỉnh, mệt mỏi.- Sau khi trẻ dậy hết, cô hướng dẫn trẻ tự làm các công việc vừa sức với trẻ như: cất gối, chiếu. Có thể chuyển dần từ trạng thái ngủ sang hoạt động khác bằng cách cho trẻ hát một bài hát hoặc âu yếm nói chuyện với trẻ, hỏi chúng mơ thấy gì. Cô bật đèn, mở cửa sổ từ từ. Cô nhắc nhở trẻ đi vệ sinh, sua khi trẻ tỉnh táo cho trẻ ăn quà chiều. Chương IIIPHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ Các mốc phát triển- Các chước ngữ điệu câu nói một cách dễ dàng.- Có vốn từ phong phú, bao gồm nhiều từ lọai.- Hiểu nghĩa một số từ khái quát, từ trái nghĩa.- Biết sử dụng một số từ gợi cảm, từ biểu hiện lễ phép trong giao tiếp.- Tích cực chủ động giao tiếp bằng các câu đơn và câu phức.- Nghe hiểu và kể lại được chuyện và trả lời được nhiều lọai câu hỏi.- Tham gia tích cực trong các hoạt động ngôn ngữ : trò chuyện, đóng kịch, trò chơi ngôn ngữ. A – CÁC HOẠT ĐỘNG VÀ HƯỚNG DẪN THỰC HIỆNCác hoạt độngHoạt động phát triển khả năng nghe – nói- Phát âm các từ có chứa âm gần giống nhau : l – n, s – x, tr – ch, b ¬- p, đ – t và các thanh điệu.- Nghe hiểu các từ khái quát, từ trái nghĩa.- Bày tỏ tình cảm, nhu cầu và kinh nghiệm bản thân, thể hiện cử chỉ, điệu bộ, nét mặt phù hợp với yêu cầu, hoàn cảnh giao tiếp.- Trả lời và đặt các câu hỏi về nguyên nhân, so sánh : Tại sao ? Có gì giống nhau ? Có gì khác nhau ? Do đâu mà có ?- Nghe kể, đọc truyện, thơ, ca dao, đồng dao, tục ngữ phù hợp với trẻ.- Nghe và kể lại sự việc, kể lại truyện rõ ràng, mạch lạc, diễn cảm.- Kể chuyện sáng tạo : theo đồ vật, theo tranh, theo chủ đề, theo kinh nghiệm.- Đóng kịch.Chuẩn bị cho việc đọc, viết- Quen với một số kí hiệu thông thường trong cuộc sống. Tiếp xúc với chữ viết trong môi trường xung quanh. Nhận dạng và phát âm các chữ cái.- Tô chữ cái, từ.- Xem và nghe đọc các loại sách. Phân biệt phần mở đầu, kết thúc của sách.- Quen với cách đọc và tiếng Việt : hướng đọc, viết từ trái sang phải, từ dòng trên xuống dòng dưới : hướng viết của cảc nét chữ : đọc ngắt nghỉ sau các dấu.- “Đọc” truyện qua các tranh vẽ. I – HOẠT ĐỘNG PHÁT TRIỂN KHẢ NĂNG NGHE VÀ NÓI1. Hướng dẫn thực hiệnPhát triển khả năng nghe và nói cho trẻ mẫu giáo là hết sức quan trọng. Để nói đựơc tốt, trẻ cần phải được luyện nghe các âm thanh của ngôn ngữ.Luyện nghe cho trẻ mẫu giáo : Tùy thuộc và từng độ tuổi để có thể cho trẻ nghe nhiều loại âm khác nhau ; nghe các giọng nói biểu cảm khác nhau,…Trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi cần được luyện nghe để dần dần giúp trẻ tri giác và phát âm đúng được các âm khó : N – L, X – S, R – D, CH – TR. Đồng thời trẻ cũng cần được luyện nghe để có thể cảm nhận đựơc các hay cái đẹp trong các từ gợi cảm về âm thanh, hình ảnh, màu sắc, dần dần biết sử dụng chúng trong câu nói :   PHẦN BỐNLẬP KẾ HOẠCH VÀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN NỘI DUNG GIÁO DỤC A – XÂY DỰNG KẾ HOẠCH GIÁO DỤC NĂM HỌC I – NHỮNG CĂN CỨ XÂY DỰNG KẾ HOẠCH GIÁO DỤC Ban giám hiệm nhà trường chịu trách nhiệm xây dựng kế hoạch năm học dựa trên các căn cứ sau :- Mục tiêu và nội dung chương trình giáo dục mẫu giáo đã quy định trong. Chương trình giáo dục mầm non do Bộ Giáo Dục và Đào tạo ban hành.- Thời gian quy định trong năm học.- Điều kiện cơ sở vật chất và các nguồn lực khác của địa phương và trường mầm non.- Nhu cầu và trình độ phát triển thực tế của trẻ trong lớp mẫu giáo. II – CÁCH THỨC XÂY DỰNG KẾ HOẠCH GIÁO DỤC - Những nội dung quy định trong 5 lĩnh vực giáo dục của chương trình được tổ chức thành các chủ đề chính. Khi thực hiện, từ chủ đề chính giáo viên có thể phát triển, mở rộng thành các chủ đề nhánh, hình thành mạng lưới liên kết các nội dung và các hoạt động giáo dục lại với nhau.- Trong quá trình xây dựng và thực hiện chủ đề, giáo viên cần lưu ý đảm bảo các yêu cầu sau đây :+ Cần tính đến nhu cầu, hứng thú của trẻ và những kiến thức bắt nguồn từ thực tế cuộc sống gần gũi với trẻ ;+ Cần được thể hiện trong các hoạt động ở trường ;+ Cần được thể hiện ở sự lựa chọn và cung cấp các đồ dùng học liệu ở các khu vực chơi trong lớp ;+ Cần được tiến hành tối thiểu trong 1 tuần, đảm bảo có sự lặp lại và mở rộng các cơ hội học cho trẻ các độ tuổi khác nhau (mẫu giáo bé, nhỡ, lớn).- Trước tiên, Ban giám hiệu nhà trường xây dựng kế hoạch chung cho cả năm học (dự kiến các chủ đề, phân phối quỹ thời gian cho từng chủ đề và cho từng khối lớp) và phổ biến hướng dẫn tổ chức thực hiện cho giáo viên trong trường. Giáo viên sẽ dựa vào kế hoạch chung này để xây dựng kế hoạch cụ thể hằng tháng và hằng tuần cho lớp mình : xác định tên chủ đề cho tháng ; mục tiêu cần đạt trên trẻ phù hợp với chủ đề ; xác định kiến thức, kĩ năng và thái độ cung cấp cho trẻ thông qua chủ đề sẽ học ; lựa chọn các hoạt động ; sắp xếp lịch tuần ; chuẩn bị đồ dùng dạy học và tiến hành tổ chức các hoạt động giáo dục hằng ngày theo kế hoạch đã định.Gợi ý các chủ đề trong năm học     PHẦN NĂMHƯỚNG DẪN THỰC HIỆN ĐÁNH GIÁ Đánh giá hoạt động thu thập thông tin, phân tích và so sánh với mục tiêu chương trình nhằm định hướng, điều chỉnh chương trình chăm sóc – giáo dục (CS – GD) trẻ. Hoạt động đánh giá có thể do giáo viên tiến hành để tổ chức và điều chỉnh hoạt động chăm sóc – giáo dục cho phù hợp với trẻ. Hoạt động đánh giá còn có thể do các cấp quản lí giáo dục (Bộ, Sở Giáo dục và đạo tạo ; các Phòng Giáo dục và Ban giám hiệu nhà trường mầm non. Vì vậy, căn cứ vào đối tượng tham gia đánh giá (giáo viên hay cán bộ quản lí giáo dục), việc đánh giá ở mẫu giáo có thể chia làm hai loại :- Đánh giá trẻ trong quá trình CS – GD.- Đánh giá việc thực hiện chương trình giáo dục trẻ. A – ĐÁNH GIÁ TRẺ TRONG QUÁ TRÌNH CHĂM SÓC – GIÁO DỤC I – MỤC ĐỊCH- Xác định nhu cầu, hứng thú và khả năng của từng trẻ để giáo viên có thể lựa chọn những tác động CS – GD thích hợp.- Nhận biết những điểm nạnh, điểm yếu trong quá trình giáo dục để điều chỉnh việc tổ chức hoạt động giáo dục sao cho phù hợp với trẻ.II – NỘI DUNGGiáo viên đánh giá trẻ trong quá trình CS – Gia đình có thể chia thành 2 loại :1. Đánh giá trẻ trong các hoạt động hàng ngày- Giáo viên tiến hành đánh giá trẻ hằng ngày trong quá trình CS – GD. Những hoạt động trong ngày của trẻ mẫu giáo lớn bao gồm : hoạt động chơi, hoạt động học, hoạt động lao động.- Hằng ngày, thông qua những hoạt động trên, giáo viên chú ý phát hiện ra những trẻ có các biểu hiện tích cực hoặc tiêu (có khả năng xếp hình hay vẽ rất tốt hoặc tỏ ra mệt mỏi, chán ăn, …) trong nhóm. lớp để có những tác động CS – GD thích hợp với các trẻ đó (hoặc trao đổi với phụ huynh để có sự phối hợp giữa nhà trường với gia đình trong việc chăm sóc – giáo dục trẻ). Đồng thời, qua những thể hiện của trẻ, giáo viên có thể nhận ra những điểm mạnh, điểm yếu trong quá trình CS – GD của mình để từ đó điều chỉnh việc tổ chức, việc CS – GD trẻ cho phù hợp hơn.- Các nội dung cần đánh giá :+ Những biểu hiện về tình trạng sức khỏe của trẻ.+ Cảm xúc, thái độ và hành vi của trẻ trong các hoạt động.+ Những kiến thức và kĩ năng của trẻ.- Dựa trên kết quả đánh giá nhanh hằng ngày, giáo viên cần xác định :+ Những trẻ cần lưu ý đặc biệt và các biện pháp CS – GD trẻ và những thay đổi phù hợp trong những ngày sau.- Mỗi nhóm/ lớp cần lập Hồ sơ cá nhân cho từng trẻ để theo dõi sự tiến bộ của các trẻ trong lờp (xem cách làm ở phần 3 – phương pháp).2. Đánh giá việc thực hiện chủ đềViệc đánh giá này giúp giáo viên nhìn nhận lại những việc mình và lớp mình đã được và chưa làm được trong chủ đề ; từ đó, cải tiến hoặc điều chỉnh các hoạt động tiếp theo, xây dựng kế hoạch của chủ đề sau được tốt hơn.Giáo viên sử dụng phiếu Đánh giá việc thực hiện chủ đề để đánh giá những vấn đề đã làm được và chưa làm được trong chủ đề sau :- Mục đích.- Nội dung.- Tổ chức hoạt động.- Những vấn đề khác như : tình trạng sức khỏe của các trẻ trong lớp, tổ chức môi trường giáo dục, tài liệu, đồ dùng, đồ chơi, …Từ dó, giáo viên lưu ý để có thể triển khai các chủ đề khác được tốt hơn.Dưới đây là mẫu phiếu đánh giá việc thực hiện chủ đề (đã được chỉnh sửa sau những góp ý của các tỉnh năm học 2006 – 2007)   PHẦN SÁUSỰ THAM GIA, PHỐI HỢP CỦA GIA ĐÌNH VÀ CỘNG ĐỒNG VỚI TRƯỜNG MẦM NON TRONG CHĂM SÓC – GIÁO DỤC TRẺ Việc chăm sóc và giáo dục (CS – GD) trẻ em được chia sẽ trách nhiệm giữa gia đình, các nhà giáo dục và cộng đồng. Trường mầm non chia sẻ trách nhiệm với gia đình và cộng đồng để thúc đẩy và tạo điều kiện tối ưu cho việc chăm sóc và giáo dục trẻ em. I – SỰ PHỐI HỢP GIỮA TRƯỜNG MẦM NON VỚI GIA ĐÌNH 1. Nội dung phối hợp giữa trưòng mầm non với gia đìnhĐể góp phần nâng cao chất lượng CS – GD trẻ ở trường mầm non, nhà trường và nhóm/ lớp cần tạo điều kiện để gia đình có thể tham gia vào nhiều hoạt động khác nhau. Có thể nêu một số nội dung phối hợp sau đây :a) Phối hợp thực hiện chương trình chăm sóc bảo vệ sức khỏe cho trẻ- Tham gia tổ chức khám sức khỏe, theo dõi sức khỏe của trẻ theo định kì.- Giáo viên và cha mẹ cùng chia sẻ, trao đổi kiến thức chăm sóc sức khỏe cho trẻ.- Phòng chống suy dinh dưỡng và béo phì cho trẻ, có kế hoạch và biện pháp chăm sóc đối với trẻ suy dinh dưỡng và trẻ có khiếm khuyết.- Đóng góp tiền ăn, các hiện vật theo yêu cầu của nhà trường.b) Phối hợp thực hiện chương trình giáo dục trẻ- Tham gia xây dựng kế hoạch giáo dục của nhà trường, của nhóm/ lớp.- Cha mẹ tham gia vào các hoạt động thực hiện các nội dung giáo dục trẻ phù hợp với chương trình, cụ thể là :+ Tạo điều kiện giúp trẻ được tự do tìm tòi khám phá trong môi trường an toàn theo khả năng và sở thích của mình để trở thành đứa trẻ tò mò, sáng tạo ; tự tin và luôn được hạnh phúc và sở thích của mình để trở thành đứa trẻ tò mò, sáng tạo ; tự tin và luôn được hạnh phúc vì mọi người xung quanh yêu thương, gần gũi trẻ.+ Chú ý lôi cuốn các thành viên trong gia đình, đặc biệt các thành viên là nam giới : ông, bố, anh, chú, bác tham gia vào việc chăm sóc và dạy trẻ.+ Coi trọng việc phát triển, can thiệp sớm và giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật.- Đối với lứa tuổi mầm non, vấn đề phát hiện sớm sự phát triển không bình thưòng của trẻ rất quan trọng. Chính nhờ có sự phát triển sớm mà nhiều khuyết tật của trẻ có thể được bù đắp và thích nghi, thậm chí tiến tới bình thường nếu được giúp đỡ kịp thời và đúng đắn. Nhà trường cần cung cấp hoặc giới thiệu cho các bậc cha mẹ trẻ biết các mốc phát triển bình thường của trẻ và những vấn đề cần lưu ý trong sự phát triển của trẻ để có thể phát hiện và can thiệp sớm- Đối với mẫu giáo 5 tuổi, nhà trường cần tư vấn để bố mẹ trẻ và cảc thành viên trong gia đình có thể chuẩn bị cho trẻ các kĩ năng tiền đọc viết, tâm thế sẳn sàng đi học tiểu học.- Phối hợp với nhà trường trong việc tổ chức ngày lễ, ngày hội, tổ chức ngày sinh nhật cho trẻ.- Tạo môi trường an toàn về tình cảm cho trẻ : Ở lớp, cô giáo cần tạo môi trường thân tình, gần gũi như ở nhà. Lúc trẻ về nhà, bố mẹ nên lắng nghe những câu chuyện của trẻ về trường lớp, các bạn hoặc hỏi han trẻ về những gì đã xảy ra ở lớp, cố gắng động viên và giáo viên những thay đổi của con mình, ví dụ như thói quen ăn uống, sức khỏe, cá tính, … để giáo viên có biện pháp CS – GD phù hợp.c) Phối hợp kiểm tra đánh giá công tác CS – GD trẻ của trường/ mầm non- Tham gia cùng với Ban giám hiệu nhà trường kiểm tra đánh giá chất lượng CS – GD diễn ra hằng ngày, trao đổi kịp thời để giáo viên có sự điều chỉnh torng nội dung và phương pháp CS – GD trẻ và phụ huynh.d) Tham gia xây dựng cơ sở vật chất- Tham gia lao động vệ sinh trường lớp, trồng cây xanh, làm đồ dùng, đồ chơi cho trẻ.- Đóng góp xây dựng, cải tạo trường/ nhóm, lớp, công trình vệ sinh, … theo quy định và theo thỏa thuận.- Đóng góp những hiện vật cho nhóm/ lớp hoặc trường mầm non như : bàn, ghế, quy định leo, cầu trượt, các vật liệu cho trẻ thực hành, …2. Hình thức phối hợp của nhà trường với gia đình- Qua bảng thông báo, góc “Tuyên truyền cho cha mẹ” của nhà trường hoặc tại mỗi nhóm lớp : thông tin tuyên truyền tới phụ huynh các kiến thức CS – GD trẻ hoặc thông báo về nội dung hoạt động ; các yêu cầu của nhà trường đối với gia đình ; hoặc những nội dung mà gia đình cần phối hợp với cô giáo trong việc thực hiện chương trình chăm sóc giáo dục trẻ.- Trao đổi thưởng xuyên, hằng ngày trong các giờ đón, trả trẻ.- Tổ chức họp phụ huynh định kì (3 lần/ 1 năm) : Thông báo cho giáo dục công việc, thảo luận về các hình thức phối hợp giữa gia đình và nhà trường (họp đầu năm) kềt hợp phổ biến kiến thức CS – GD trẻ cho cha mẹ.- Tổ chức những buổi sinh hoạt, phổ biến kiến thức chăm sóc giáo dục trẻ theo chuyện đặc biệt hoặc khi có dịch bệnh. Đối với trẻ mẫu giáo lớn, cần chú trọng các chuyên đề, các nội dung về chuẩn bị cho trẻ vào lớp một, phòng chống béo phì và suy dinh dưỡng.- Thông qua các đợt kiểm tra sức khỏe cho trẻ.- Thông qua các hội thi, hoạt động văn hóa văn nghệ.- Cán bộ, giáo viên đến thăm trẻ tại nhà.- Hôm thư cha mẹ.- Phụ huynh tham quan hoạt động của trường mầm non.- Thông qua các phương tiện thông tin đại chúng (đài truyền hình, truyền thanh, …).

Mỗ giáo nhỡ - 4 tuổi

 GIÁO DỤC MẦM NON 4 ĐẾN 5 TUỔI   PHẦN MỘT MỤC TIÊU GIÁO DỤC VÀ CHẾ ĐỘ SINH HOẠT A – MỤC TIÊU GIÁO DỤC TRẺ CUỐI 4 TUỔI I – PHÁT TRIỂN THỂ CHẤT - Cân nặng và chiều cao nằm trong kênh A, cụ thể :+ Trẻ trai: Cân nặng đạt 14,4 – 23,5 kg.Chiều cao đạt 100,7 – 119,1 cm.+ Trẻ gái: Cân nặng đạt 13,8 – 23,2 kg.Chiều cao đạt 99,5 – 117,2 cm- Bò chui không bị chạm vào vật.- Giữ được thăng bằng trên một chân trong 5 giây- Chạy đổi hướng theo vật chuẩn.- Ném xa 3m bằng hai tay.- Bật xa 30 – 40 cm- Cắt được theo đường thẳng.- Rửa tay bằng xà phòng, tự lau mặt, đánh răng- Cởi và mặt quần áo- Phân biệt được một số vật dụng nguy hiểm, nơi an toàn và không an toàn. II – PHÁT TRIỂN NHẬN THỨC - Thích tìm hiểu khám phá đồ vật và hay đặt các câu hỏi: Tại sao? Để làm gì?…- Nhận biết được một số đặc điểm giống nhau và khác nhau của bản thân với người gần gũi.- Phân loại được các đối tượng theo 1 – 2 dấu hiệu cho trước.- Nhận ra mối liên hệ đơn giản giữa sự vật, hiện tượng quen thuộc.- Nhận biết được phía phải, phía trái của bản thân.- Nhận biết các buổi sáng – trưa – chiều – tối.- Đếm được trong phạm vi 10.- Có biểu tượng về số trong phạm vi 5- So sánh và sử dụng các từ: bằng nhau, to hơn – nhỏ hơn, cao hơn – thấp hơn, rộng hơn – hẹp hơn, nhiều hơn – ít hơn…- Nhận biết được sự giống nhau giữa các hình tròn, hình vuông, hình tam giác, hình chữ nhật qua một vài dấu hiệu nổi bật.- Nhận biết một số công cụ, sản phẩm, ý nghĩa của một số nghề phổ biến và gần gũi.- Nói được địa chỉ, số điện thoại của gia đình- Biết tên của một vài danh lam thắng cảnh của quê hương đất nước. III – PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ - Diễn đạt được mong muốn, nhu cầu bằng câu đơn, câu nghép- Đọc thơ, kể lại chuyện diễn cảm.- Kể lại được sự việc theo trình tự.- Chú ý lắng nghe người khác nói. IV – PHÁT TRIỂN TÌNH CẢM XÃ HỘI - Chơi thân thiện với bạn.- Thể hiện sự quan tâm đến người khác bằng lời nói, cử chỉ, hành động…- Thực hiện công việc được giao đến cùng.- Thực hiện một số quy định trong gia đình, trường, lớp mầm non, nơi công cộng.- Giữ gìn, bảo vệ môi trường: bỏ rác đúng nơi quy định, chăm sóc con vật, cây cảnh: giữ gìn đồ dùng, đồ chơi. V – PHÁT TRIỂN THẨM MĨ - Trẻ bộc lộ cảm xúc phù hợp trước vẻ đẹp của các sự vật, hiện tượng xung quanh và các tác phẩm nghệ thuật.- Thích nghe nhạc, nghe hát; chú ý lắng nghe, nhận ra giai điệu quen thuộc; hát đúng, hát diễn cảm bài hát mà trẻ yêu thích.- Phân biệt âm sắc của một số dụng cụ âm nhạc quen thuộc và biết sử dụng để đệm theo nhịp bài hát, bản nhạc.- Vận động phù hợp với nhịp điệu bài hát, bản nhạc (vỗ tay, dậm chân, nhún nhảy, múa…).- Biết sử dụng các dụng cụ, vật liệu, phối hợp màu sắc, hình dạng, đường nét để tạo ra sản phẩm có nội dung và bố cục đơn giản.- Biết thể hiện xen kẻ màu, hình trong trang trí đơn giản.- Biết nhận xét và giữ gìn sản phẩm của mình, của bạn.   PHẦN HAIHƯỚNG DẪN THỰC HIỆN NUÔI DƯỠNGVÀ CHĂM SÓC SỨC KHỎE A – TỔ CHỨC ĂN, NGỦ I – TỔ CHỨC ĂN 1. Số lượng và chất lượng bữa ăna) Nhu cầu năng lượngNhu cầu năng lượng một ngày của trẻ ở độ tuổi này trung bình từ 1400 – 1600 Kcal, chia làm 4 – 5 bữa. Trong thời gian ở trường mầm non, trẻ cần được ăn tối thiểu một bữa chính và một bữa phụ. Nhu cầu về năng lượng cả ngày, khoảng 700 – 960 Kcal/trẻ/ngày.Trong đó: bữa chính: 500 – 700 Kcal/trẻ, bữa phụ: 200 – 260 Kcal/trẻ.b) Tỉ lệ giữa các chất sinh năng lượng- Đối với trẻ bình thường;+ Chất đạm (protit) cung cấp khoảng 12 – 15% năng lượng khẩu phần+ Chất béo (Lipit) cung cấp khoảng 15 – 25% năng lượng khẩu phần+ Chất bột (gluxit) cung cấp khoảng 60 – 73% năng lượng khẩu phầnVí dụ:+ Chất đạm (protit) cung cấp13% năng lượng khẩu phần+ Chất béo (Lipit) cung cấp 25% năng lượng khẩu phần+ Chất bột (gluxit) cung cấp 62% năng lượng khẩu phần- Tỉ lệ giữa các chất sinh năng lượng nên đảm bảo đạt 1005 và trong phạm vi của từng chất.- Đối với trẻ béo phì, năng lượng do chất béo và chất bột đường cung cấp nên duy trì ở mức độ tối thiểu (tức là chất béo cung cấp 15% và chất bột đường cung cấp 60% năng lượng khẩu phần), đồng thời tăng cường cho trẻ ăn nhiều các loại rau, củ, quả và tích cực vận động.c) Lượng thưc phẩm- Mỗi bữa chính, trẻ ăn 300 – 400g kể cả cơm và thức ăn(khoảng 2 bát) với đủ năng lượng và các chất dinh dưỡng cần thiết như đạm, béo, đường, muối khoáng và sinh tố. Các chất dinh dưỡng này có nhiều trong gạo, đậu, đỗ, thịt, cá, trứng, tôm, rau, đậu, lạc, vừng, dầu mỡ, các loại rau, củ, quả… và những loại thực phẩm khác, sẵn có tại địa phương.- Lượng thưc phẩm cần cho một trẻ hằng ngày ở trường(một bữa chính và một phụ). 2. Nước uống- Hằng ngày, trẻ cần được uống nước đầy đủ, nhất là về mùa hè. Lượng nước cần đưa vào cơ thể trẻ ( dưới dạng nước uống, thức ăn, hoa quả ) từ 1,6 – 2 lít nước một ngày.- Nước uống cần đun sôi kĩ và đựng trong bình hay ấm có nắp đậy kín. Mỗi trẻ có một cốc riêng. Mùa đông cần ủ nước uống cho ấm. Mùa hè, nếu có điều kiện, nên cho trẻ uống nước nấu bằng các loại lá như sài đất, rau ngô, bông mã đề, hoa kim ngân…hoặc nước quả(dâu, cam, chanh).- Giáo viên cho trẻ uống theo nhu cầu và chia làm nhiều lần trong ngày, hướng dẫn trẻ tự lấy cốc uống nước, uống xong úp cốc đúng nơi qui định. Không để trẻ quá khát mới uống hoặc uống một lần quá nhiều. Không nên cho trẻ uống nhiều nước trước bữa ăn. 3. Chăm sóc bữa ăna) Trước khi ăn- Hướng dẫn trẻ rửa sạch tay, đeo yếm trước khi ăn (nếu có).- Hướng dẫn trẻ sắp xếp bàn ghế, cho 4 – 6 trẻ ngồi một bàn, có lối đi quanh bàn dễ dàng.- Chuẩn bị khăn mặt, bát, thìa, cốc uống nước đầy đủ cho số lượng trẻ.- Trước khi chia thức ăn, cô cần rửa tay sạch, quần áo và đầu tóc gọn gàng. Cô chia thức ăn và cơm ra từng bát, trộn đều, không để trẻ chờ lâu.b) Trong khi ăn- Giáo viên cần vui vẻ, nói năng dịu dàng, tạo không khí thoải mái cho trẻ trong khi ăn. Động viên, khuyến khích trẻ ăn hết suất, kết hợp giáo dục dinh dưỡng, hành vi vệ sinh văn minh trong ăn uống: dạy cho trẻ biết mời cô và các bạn trước khi bắt đầu ăn; ngồi ăn ngay ngắn, không co chân lên ghế; cầm thìa bằng tay phải và tự xúc ăn một cách gọn gang, tránh đổ vãi; ăn từ tốn, nhai kĩ, không nói chuyện và đùa nghịch trong khi ăn…- Giáo viên cần chăm sóc, quan tâm hơn với trẻ mới đến lớp, trẻ yếu hoặc mới ốm dạy. Nếu thấy trẻ ăn kém, cô cần tìm hiểu nguyên nhân để báo cho nhà bếp hoặc y tế hay bố mẹ biết để chủ động chăm sóc trẻ tốt hơn. Đối với trẻ xúc chưa thạo, ăn chậm hoặc biếng ăn, cô có thể giúp trẻ xúc và động viên trẻ ăn khẩn trương hơn. Có biện pháp phòng tránh hóc sặc trong khi trẻ ăn.c) Sau khi ănHướng dẫn trẻ xếp bát, thìa, ghế vào nơi quy định, uống nước, lau miệng, lau tay sau khi ăn, đi vệ sinh(nếu trẻ có nhu cầu).   PHẦN BAHƯỚNG DẪN THỰC HIỆN NỘI DUNG GIÁO DỤC Chương IGIÁO DỤC PHÁT TRIỂN THỂ CHẤTGIÁO DỤC DINH DƯỠNG SỨC KHỎE I- HƯỚNG DẪN CHUNG 1. hướng dẫn thực hiện nội dunga) Nhận biết, làm quen với 4 nhóm thực phẩm và cách chế biến* Cho trẻ làm quen với 4 nhó thực phẩm:- Nhận biết, gọi tên thực phẩm và các nhóm thực phẩm: thực phẩm giàu chất đạm, chất béo, chất bột đường; nhóm giàu vitamin và muối khoáng.- Nhận biết, phân loại các thực phẩm có nguồn gốc khác nhau.+ Thưc phẩm có nguồn gốc động vật: Thịt các loại (thịt gà, thịt lợn, thịt bò…), cá các loại (cá đồng , cá biển, cá chép, cá trôi, cá trắm…), tôm, cua, trai, ốc, hến, mỡ…trứng gia cầm, sữa và các chế phẩm.+ Thực phẩm có nguồn gốc thực vật: Đậu các loại (đậu tương, đậu xanh, đậu đen, đậu đỏ…), lạc, vừng, dầu ăn, rau, củ, quả các loại…- Các thực phẩm khác nhau về màu sắc, kích thước, hình dạng, mùi vị.* Thực phẩm được chế biến và được ăn theo nhiều dạng khác nhau:- Thưc phẩm có nhiều cách ăn khác nhau : Ăn sống, ăn chín, muối dưa, đóng hộp…- Mỗi thực phẩm có nhiều dạng chế biến khác nhau: luộc, xào, kho, làm bánh, làm nem, hay nấu phở…- Trẻ biết nhiều cách ăn khác nhau của thực phẩm.Ví dụ: Cách ăn quả Đu Đủ:bỏ vỏ, bỏ hạt.+ Khi quả đu đủ còn xanh: có thể làm nộm(ăn sống), nấu canh, xào (ăn nhín).+ Khi quả đu đủ chín vàng: có thể cắt miếng để ăn, làm nước sinh tố, ướp đường.b) Ích lợi của ăn uống đối với sức khỏe: ăn uống đầy đủ, hợp lý, sạch sẽ giúp con người khỏe mạnh* Lợi ích của thưc phẩm đối với sức khỏe của con người- Con người cần ăn, uống đầy đủ, hợp lý và sạch sẽ để sống, phát triển, làm việc, họpc tập và vui chơi.- Ăn, uống nhiều loại thực phẩm khác nhau giúp cơ thể mau lớn, ít ốm đau, da dẻ hồng hào, mắt sáng, nhanh nhẹn, thông minh, học giỏi.- Dạy trẻ biết những thực phẩm có nhiều năng lượng giúp bé vui chơi, chạy, nhảy (sữa, cơm, ngô, khoai, sắn, thịt, cá, trứng, dầu mỡ, lạc, vừng); thực phẩm giúp sáng mắt, da đẹp (các loại rau, củ, quả, nhất là rau xanh, đỏ, củ quả màu vàng, đỏ); thực phẩm giúp bé nhanh lớn, thông minh( gạo, mì, ngô, thịt, cá, trứng, dầu, mỡ, lạc, vừng, rau, củ, quả)…Từ đó trẻ sẵn sàng và có thái độ chủ động ăn uống những thức ăn mà cô giáo mà cô giáo và cha mẹ chế biến. Trẻ hiểu được nếu ăn ít, ăn không đủ các loại thức ăn, ăn thức ăn không sạch sẽ, trẻ sẽ bị suy dinh dưỡng, ốm đau bệnh tật. Do vậy, tất cả mọi người đều phải ăn nhiều loại thức ăn khác nhau, ăn sạch, đầy đủ số lượng và các nhóm thực phẩm. Trẻ cũng cần biết không nên ăn vặt, ăn quá nhiều dễ bị béo phì.* Dạy trẻ biết cách chọn thức ăn và bảo quản thức ăn một cách đơn giản: Chọn thực phẩm sạch, tươi, ngon, không nên ăn rau quả dập nát, thức ăn ôi thiu. Thức ăn không ăn hết phải được cất đậy cẩn thận, không để ruồi đậu, kiến bâu.* Dạy trẻ biết các bữa ăn trong ngày:- Dạy trẻ biết các bữa ăn trong ngày, thức ăn trong các bữa ăn đó là gì, các bữa ăn trong ngày khác nhau như thế nào (số lượng, dạng chế biến), các bữa ăn trong các ngày lễ, Tết.Ví dụ: hằng ngày trẻ ăn 3 – 5 bữa, ở trường trẻ ăn một bữa chính và một bữa phụ, bữa chính ăn 2 bát, bữa phụ trẻ ăn 1 bát, thức ăn trong mỗi bữa chính và bữa phụ là thức ăn gì.- Dạy trẻ biết mỗi bữa cần ăn đủ các loại thức ăn khác nhau, cần ăn hết suất trong các bữa ăn hằng ngày.- Dạy trẻ biết ăn uống sạch sẽ: ăn thức ăn đã nấu chín, uống nước đã được đun sôi, ăn chậm, nhai kỹ, không rơi vãi.- Hướng dẫn trẻ thử các thức ăn mới và ăn các loại thức ăn khác nhau, hình thành thái độ vui lòng chấp nhận và có hứng thú trong ăn uống, không kén chọn thức ăn.c) Tập làm một số công việc đơn giản tự phục vụ, bước đầu biết bảo vệ và chăm sóc các bộ phận cơ thể và giác quan* Dạy trẻ cách sử dụng một số đồ dùng trong ăn uống, hình thành ở trẻ kỹ năng dử dụng đồng dùng ăn uống đúng cách:- Dạy trẻ cách sử dụng ca, cốc, bát, thìa, bình rót nước…- Dạy trẻ cách chia thức ăn, rót, đong, đếm đồ dùng ăn uống, thức ăn trong phạm vi 10Ví dụ: Trên đĩa có mấy cái bánh/kẹo?…- Dạy trẻ quy trình và tập chế biến một số món ăn đơn giản như pha nước cam, nước chanh, pha sữa, pha bột đậu, giúp mẹ nhặt rau, giúp cô tham gia chuẩn bị phòng ăn, bữa ăn. Hình thành ở trẻ thói quen tự phục vụ, tính cộng tác, chia sẽ với bạn bè, trên cơ sở đó, trẻ thích thú với những thức ăn do mình tự chế biến, góp phần giáo dục hình thành các kỹ năng sống.- Luyện cho trẻ một số nề nếp, thói quen vệ sinh, hành vi văn minh trong ăn uống như biết rửa hoa quả trước khi ăn, cùng bạn và giúp bạn chuẩn bị bàn tiệc nhân ngày sinh nhật, lễ tết, biết chào mời và không đùa nghịch trong khi ăn…• Dạy trẻ làm quen với cách bảo vệ và chăm sóc các bộ phận cơ thể, giác quqn, luyện nề nếp, thói quen tốt trong giữ gìn vệ sinh cá nhân, vệ sinh mội trường:- Dạy trẻ biết lợi ích việc giữ gìn sức khỏe, lợi ích của vệ sinh cá nhân, ăn uống đủ chất.- Dạy trẻ tập rửa tay bằng xà phòng, đánh răng, lau mặt,…- Dạy trẻ tập rửa đồ chơi- Dạy trẻ biết cách giữ gìn vệ sinh môi trường- Dạy trẻ nhận biết các loại trang phục, mặc trang phục phù hợp với thời tiết, bước đầu tự mặc quần áo- Dạy trẻ nhận biết một số dấu hiệu đơn giản khi ốm.d) Nhận biết những nơi không an toàn, hành động nguy hiểm và cách phòng tránh- Trẻ nhận biết những nơi, vật dụng nguy hiểm cần tránh xa: bếp lửa, nước sôi, ổ cấm điện, dao kéo, giếng, ao, hồ, bể nước, hố vôi; không được đến gần nồi canh, cơm còn nóng…; không được chơi những vật dụng sắc, nhọn; không được ngậm hột, hạt; không trêu chó, mèo.- Trẻ biết rằng không được tự mình đến trường khi không được phép của cha mẹ; trên đường đến trường không được đi sát hồ, ao, vũng nước lớn; không được đi cùng với người lạ khi cô giáo chưa cho phép.- Trẻ biết phát hiện ra những chiếc ghế bị gãy, thìa bát quá cũ, không an toàn và báo cho người lớn.- Không tự uống thuốc khi chưa được phép của người lớn.2. Hướng dẩn thực hiện cá hoạt động giáo dục dinh dưỡng và sức khỏea) Hình thức giáo dục dinh dưỡng và sức khỏe* Lồng ghép giáo dục dinh dưỡng và sức khỏe vào hoạt động học tập một cách trực quan, cụ thể, dễ nhớ, dễ hiểu…làm phong phú cho nội dung, phương pháp học tập.Ví dụ: Khi hướing dẫn trẻ hoạt động khám phá khoa học “ Một số đồ dùng trong gia đình”, cần đảm bảo yêu cầu: Trẻ gọi đúng tên, biết công dụng của đồ dùng, phân loại đồ dùng trong gia đình. Tiếp theo giáo viên có thể hướng dẫn trẻ cách sử dụng một vài đồ dùng trong ăn uống phù hợp với nội dung của hoạt động khám phá khoa học như tìm hiểu chức năng và cách sử dụng thìa, cốc, chén, bát, bìng đựng nước. Sau đó cho trẻ thực hành sử dụng thìa, cốc,chén, bát, bìng đựng nước thông qua một số hoạt động “Bé tập làm nội trợ” như: rót nước từ bình ra cốc, đong nước, xúc, chia bột (gạo, muối, đường), nhặt rau cho vào chậu, rổ, tập pha nước đường, nước chanh, nếm, thử thức ăn mà trẻ đã chế biến.Khi hướng dẫn trẻ hoạt động khám phá khoa học: “ Một số loại quả”, “Một số loại rau”; “Một số con vật nuôi trong gia đình”, cô giáo nên khai thác, mở rộng kiết thức và thực hành dinh dưỡng cho trẻ như lợi ích của con vật, rau, quả đối với sức khỏe con người; để đảm bảo vệ sinh thực phẩm, trước khi ăn cần làm gì?; cách chọn rau quả (tươi, không dập nát, không bị thối,…); cách chế biến đơn giản (nhặt rau muống, tuốt rau ngót, gọt vỏ, rửa quả…), cách ăn một số loại hoa quả: gọt vỏ, bỏ hạt (cam, bưởi, quýt) hay bóc vỏ ăn ruột(chuối), bỏ vỏ, ăn cùi, uống nước(quả dừa)…• Giáo dục dinh dưỡng và sức khỏe qua hoạt động vui chơi: Trò chơi lô tô, truyện kể, thơ ca, đồng dao, đóng kịch, tập tô, vẽ, xé, dán…• Thực hiện giáo dục dinh dưỡng và sức khẻo thông qua các hoạt động theo thời điểm trong ngày, ở mọi lúc, mọi nơi: Tùy theo hòan cảnh có thể thưc hiện lồng ghép giáo dục dinh dưỡng và sức khỏe.- Thời điểm đón trả trẻ: Khi trẻ đến lớp, cô nhắc nhở trẻ để guốc, dép ngay ngắn, đúng nơi quy định, trò chuyện với trẻ để trẻ biết đi học cầb ăn mặc phù hợp với thời tiết, không được tự mình đến trường khi không được phép của cha mẹ; trên đường đi đến trường học, không được đi sát hồ, ao, vũng nước lớn; không được về cùng người lạ khi cô giáo chưa cho phép.- Trong giờ dạo chơi ngoài trời: Cô cho trẻ quan sát, phân biệt, so sánh các loại rau, quả, con vật, cách chăm sóc chúng; hướng dẫn cho trẻ một số nguyên tắc an toàn khi chơi ngoài trời(chơi ở những nơi an toàn, không chơi gần hồ, ao; những đồ chơi được phép chơi và không được phép chơi…). Trong quá trình trẻ chơi ngoài trời, cô chỉ cho trẻ những nơi để trẻ không được đến gần như: giếng nước, vũng nước…và giải thích cho trẻ tại sao không được đến gần; dặn trẻ nếu có bạn chẳng may bị ngã phải báo ngay với cô giáo. Cô thường xuyên nhắc nhở trẻ không đưa tay bẩn lên dụi mắt, không vứt rác sân trường, không được chơi những vật sắc nhọn; không ngậm hột, hạt, không ngậm vật bẩn vào mốm và rửa tay sạch sẽ trước khi vào lớp, sau khi đi vệ sinh.- Trong giờ ăn cô giới thiệu cho trẻ những thức ăn trẻ được ăn, nhắc trẻ nhai kỹ, ăn uống gọn gàng.- Giờ ngủ cô nhắc nhở trẻ đi vệ sinh trước khi ngủ, tự lấy gối ngủ, tuyệt đối không được ra ngoài khi không được phép cô giáo.- Cô hướng dẫn trẻ rửa tay trước khi ăn, sau khi đi vệ sinh, khi tay bẩn. Trẻ lứa tuổi này không những có kỹ năng của việc rửa tay, lau mặt, đánh răng, rửa đồ chơi mà còn hiểu được lợi ích của việc giữ gìn vệ sinh cá nhân, vệ sinh môi trường. Do vậy, trong quá trình hướng dẫn cho trẻ làm, cô nên giải thích cho trẻ tại sao phải rửa mặt, rửa tay, giữ gìn vệ sinh quần áo và lợi ích của những việc làm đó.- Thường xuyên nhắc nhở trẻ không vứt đồ chơi bừa bãi ra sàn nhà, hướng dẩn trẻ thu dọn đồ chơi gọn gàng, sắp xếp đúng nơi quy định sau khi chơi.- Theo lịch vệ sinh, vào những thời điểm tổng vệ sinh đồ chơi, cô hướng dẫn trẻ tham gia cùng cô, bước đầu hướng dẫn trẻ lau, rửa đò chơi, làm trực nhật cùng cô.- Phối hợp với gia đình để giáo dục dinh dưỡng, vệ sinh và sức khỏe cho trẻ tại gia đình, hình thành thói quen tốt về vệ sinh cá nhân, vệ sinh môi trường, biết tự chăm sóc sức khỏe và an toàn cho bản thân (ăn nhiều loại thức ăn, không kiêng khem, mặc ấm, đi tất khi trời rét, đội mũ khi ra nắng, không chơi cạnh hồ ao, không sờ vào điện, quạt).• Một số hình thức khác: Bản tin, ngày hội, ngày lễ, Bé tập làm nôi trợ, làm vườn, thăm trang trại, đi chợ, siêu thị,…b) Gợi ý tich hợp nội dung giáo dục dinh dưỡng và sức khỏe vào chủ đềThiết kế các nội dung giáo dục dinh dưỡng và sức khỏe theo chủ đề lấy trẻ , gắn với các mối quan hệ qua lại giữa trẻ với môi trường sống, mở rộng dần phạm vi hiểu biết của trẻ nhằm giáo dục trẻ các kỹ năng sống đơn giản, gần gũi tùy theo khà năng phát triển và đặc điểm cà nhân của trẻ. Lưa chọn nôi dung giáo dục dinh dưỡng và sức khỏe vào hoạt động có chủ đích hoặc các hoạt động khác sao cho tự nhiện, khéo léo tránh đưa quá nhiều nội dung vào cùng một hoạt động, tổ chức phối hợp giữa hoạt động cá nhân và hoạt động theo nhóm, cả lớpVí dụ 1 : Tích hợp nội dung giáo dục dinh dưỡng và sức khỏe vào chủ đề “ Giai dình”:Hướng dẫn trẻ gọi đúng tên, biết công dụng của đồ dùng, phân loại đồ dùng trong gia đình. Dạy trẻ cách sử dụng một vài đồ dùng ăn uống như tìm hiểu chức năng và cách sử dụng thìa, cốc, chén, bát, bìng đựng nước, xúc, chia bột (gạo, muối, đường), nhặt rau cho vào chậ/rổ, tập pha nước đường, nước chanh, nếm, thử thức ăn mà trẻ đã chế biến.- Dạy trẻ biết nhu cầu ăn uống của gia đình: mọi thành viên trong gia đình cần phải ăn uống nhiều loại thức ăn trong một bữa để khỏe mạnh, kể tên các thức ăn mà gia đình thường dùng, các bữa ăn của gia đình hằng ngày, sở thích ăn uống của các thành viên trong gia đình.- Làm và tham gia chế biến một số món ăn đơn giản. làm quen 4 nhóm thực phẩm (tháp dinh dưỡng).- Tự phục vụ hoặc giúp bố mẹ một số việc vừa sức; rửa tay, tập rửa mặt, nhặt rau.- Làm gì khi một thành vên trong gia đình bị ốm/ những biểu hiện của một người bị ốm- An toàn khi sử dụng đồ dùng trong gia đình, tránh những vật dụng, nơi nguy hiểm: không chơi gần bếp lửa, nước sôi, không sờ vào quạt, không chơi gần ao…- Không tự uống thuốc khi chưa được phép của người lớnVí dụ 2: Tích hợp nôi dung giáo dục dinh dưỡng và sức khỏe vào chủ đề “Thế gới thục vật”:- Giá trị thực phẩm nguồn gốc thực vật/lợi ích của rau củ, quả: nhiều vitamin, muối khoáng, giúp da đẹp, phòng tránh được bệnh tật- Các món ăn nấu từ thực phẩm có nguồn gốc thực vật.- Cách ăn một số loại rau quả: ăn sống, ăn chín, rửa sạch, gọt vỏ, bỏ hạt khi ăn một số loại quả…- An toàn khi dùng dao.   PHẦN BỐN LẬP KẾ HOẠCH VÀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN NỘI DUNG GIÁO DỤC A – XÂY DỰNG KẾ HOẠCH GIÁO DỤC NĂM I – NHỮNG CĂN CỨ XÂY DỰNG KẾ HOẠCH GIÁO DỤC Ban Giám Hiệu nhà trường chịu trách nhiệm xây dựng kế hoạch năm học dựa trên các căn cứ :- Mục tiêu và nội dung chương trình giáo dục mẫu giáo đã quy định trong chương trình giáo dục mầm non do Bộ giáo dục và Đào tạo ban hành.- Thời gian quy định trong năm học.- Điều kiện cơ sở vật chất và các nguồn lực khác của địa phương và trường mầm non.- Nhu cầu và trình độ phát triển thực tế của trẻ trong lớp mẫu giáo. II – CÁCH THỨC XÂY DỰNG KẾ HOẠCH GIÁO DỤC Dựa vào những nội dung quy định trong 5 lĩnh vực giáo dục phát triển trẻ của chương trình, giáo viên sắp xếp thành các chủ đề chính. Từ chủ đề chính, giáo viên có thể phát triển, mở rộng thành các chù đề nhánh, hình thành mạng liên kết các nội dung và các hoạt động giáo dục lại với nhau.Khi xây dựng và thực hiện chủ đề, giáo viên cần lưu ý một chủ đề cần thỏa mãn 4 yêu cầu sau :- Nhu cầu, hứng thú của trẻ và những kiến thức bắt nguồn từ thực tế cuộc sống gần gũi với trẻ.- Được thể hiện trong các hoạt động của trường.- Được thể hiện ở sự lựa chọn và cung cấp các đồ dùng học liệu ở các khu vực chơi trong lớp.- Được tiến hành tối thiểu trong một tuần, đảm bảo có sự lặp lại và mở rộng các cơ hội học cho trẻ các độ tuổi khác nhau ( mẫu giáo bé, nhỡ, lớn ).Trước tiên, Ban Giám Hiệu nhà trường xây dựng kế hoạch chung cho cả năm học, trong đó dự kiến các chủ đề, phân phối quỹ thời gian cho từng chủ đề, từng khối lớp( lứa tuổi) và phổ biến hướng dẫn tổ chức thực hiện cho giáo viên trong trường. Dựa vào kế hoạch năm học, giáo viên xây dựng kế hoạch cụ thể hằng tháng và hằng tuầncho lớp mình, bao gồm xác định chủ đề cho tháng, mục tiêu cần đạt được trên trẻ, lựa chọn các hoạt động, sắp xếp lịch tuần, chuẩn bị đồ dùng dạy học và tiến hành tổ chức các hoạt động giáo dục hằng ngày theo kế hoạch dự định.   PHẦN NĂMHƯỚNG DẪN ĐÁNH GIÁ Đánh giá là hoạt động thu thập thông tin, phân tích và so sánh với mục tiêu chương trình nhằm định hướng, điều chỉnh chương trình chăm sóc – giáo dục trẻ. Hoạt động đánh giá có thể do giáo viên tiến hành để tổ chức và điều chỉnh hoạt động chăm sóc – giáo dục cho phù hợp với trẻ. Hoạt động đánh giá còn có thể do các cấp quản lí giáo dục ( Bộ, Sở, các Phòng Giáo Dục – Đào tạo và Ban Giám hiệu nhà trường ) tiến hành để giám sát, thanh tra việc thực hiện chương trình giáo dục trẻ ở các trường mẫu giáo, mầm non. Vì vậy, căn cứ vào đối tượng tham gia đánh giá ( giáo viên hay cán bộ quản lí giáo dục ), việc đánh giá ở mẫu giáo có thể chia làm hai loại :- Đánh giá trẻ trong quá trình chăm sóc- giáo dục.- Đánh giá việc thực hiện chương trình giáo dục trẻ. A – ĐÁNH GIÁ TRẺ TRONG QUÁ TRÌNH CHĂM SÓC – GIÁO DỤC I – MỤC ĐÍCH Xác định nhu cầu, hứng thú và khả năng của từng trẻ để giáo viên có thể lựa chọn những tác động chăm sóc – giáo dục thích hợp. Đồng thời giáo viên có thể nhận ra những điểm mạnh, điểm yếu trong quá trình giáo dục của mình để từ đó điều chỉnh việc tổ chức hoạt động giáo dụ sao cho phù hợp với trẻ. II – NỘI DUNG Giáo viên đánh giá trẻ trong quá trình chăm sóc – giáo dục có thể chia thành 2 loại : 1. Đánh giá trẻ trong các hoạt động hằng ngàyGiáo viên tiến hành đánh giá trẻ hằng ngày trong quá trình chăm sóc – giáo dục. Những hoạt động trong ngày của trẻ mẫu giáo Nhỡ bao gồm : hoạt động chơi, hoạt động học, hoạt động lao động.Hằng ngày, thông qua những hoạt động trên, giáo viên chú ý phát hiện ra những trẻ có các biểu hiện tích cực hoặc tiêu cực ( có khả năng xếp hình hay vẽ rất tốt hoặc tỏ ra mệt mỏi, chán ăn…) trong nhóm/ lớp có những tác động chăm sóc – giáo dục thích hợp với các trẻ đó ( hoặc trao đổi với phụ huynh để có sự phối hợp giữa nhà trường với gia đình trong việc chăm sóc – giáo dục trẻ ).Đồng thời qua những biểu hiện của trẻ, giáo viên giáo viên có thể nhận ra những điểm mạnh, điểm yếu trong quá trình chăm sóc – giáo dục của mình để từ đó điều chỉnh việc tổ chức, việc chăm sóc – giáo dục trẻ cho phù hợp hơn.• Các nội dung cần đánh giá- Những biểu hiện về tình trạng sức khỏe của trẻ.- Cảm xúc, thái độ và hành vi của trẻ trong các hoạt động.- Những kiến thức và kĩ năng của trẻ.Dựa trên kết quả đánh giá nhanh hằng ngày, giáo viên xác định :- Những trẻ cần lưu ý đặc biệt và cần đến các biện pháp chăm sóc giáo dục riêng cho phù hợp.- Những vấn đề cần lưu ý trong việc tổ chức hoạt động chăm sóc – giáo dục trẻ và những thay đổi phù hợp trong những ngày sau.Mỗi nhóm/ lớp, cần lập hồ sơ cá nhân cho từng trẻ để theo dõi sự tiến bộ của các trẻ trong lớp ( xem cách làm ở Phần 3 – Phương pháp sau đây ) 2. Đánh giá việc thực hiện chủ đề Việc đánh giá này giúp giáo viên nhìn nhận lại những việc mình và lớp mình đã làm được và chưa làm được trong chủ đề ; từ đó, cải tiến hoặc điều chỉnh các hoạt động tiếp, xây dựng kế hoạch của chủ đề sau được tốt hơn.Giáo viên sử dụng phiếu Đánh giá việc thực hiện chủ đề để đánh giá những vấn đề đã làm được và chưa làm được trong chủ đề như :- Mục đích.- Nội dung.- Tổ chức hoạt động.- Những vấn đề khác như : tình trạng sức khỏe của các trẻ trong lớp, tổ chưac môi trường giáo dục, tài liệu, đồ dùng, đồ chơi…Từ đó, giáo viên lưu ý để có thể triển khai các chủ đề khác được tốt hơn.Dưới đây là mẫu phiếu đánh giá việc thực hiện chủ đề ( đã được chỉnh sửa sau những góp ý của các tỉnh năm học 2006 – 2007   PHẦN SÁUSỰ THAM GIA, PHỐI HỢP CỦA GIA ĐÌNH VÀ CỘNG ĐỒNG VỚI TRƯỜNG MẦM NON TRONG CHĂM SÓC – GIÁO DỤC TRẺ Việc chăm sóc và giáo dục trẻ em được chia sẻ trách nhiệm giữa gia đình, các nhà giáo dục và cộng đồng. Trường mầm non chai sẻ trách nhiệm với gia đình và cộng đồng để thúc đẩy và tạo điều kiện tối ưu cho việc chăm sóc và giáo dục trẻ em. I – SỰ PHỐI HỢP GIỮA TRƯỜNG MẦM NON VỚI GIA ĐÌNH1. Nội dung phối hợp giữa trường mầm non với gia đìnhĐể góp phần nâng cao chất lượng chăm sóc – giáo dục trẻ ở trường mầm non, nhà trường và nhóm/ lớp cần tạo điều kiện để gia đình có thể tham gia vào nhiều hoạt động khác. Có thể nêu một số nội dung phối hợp sau đây :1.1. Phối hợp thực hiện chương trình chăm sóc bảo vệ sức khỏe cho trẻ- Tham gia tổ chức khám sức khỏe, theo dõi sức khỏe của trẻ theo định.- Giáo viên và cha mẹ cùng chia sẻ, trao đổi kiến thức chăm sóc sức khỏe cho trẻ.- Phòng chống suy dinh dưỡng và béo phì cho trẻ, có kế hoạch và biện pháp chăm sóc đối với trẻ suy dinh dưỡng và trẻ có khiếm khuyết.- Đóng góp tiền ăn, các hiện vật theo yêu cầu của nhà trường.1.2. Phối hợp thực hiện chương trình giáo dục trẻ - Tham gia xây dựng kế hoạch giáo dục của nhà trường, của nhóm/ lớp.- Cha mẹ tham gia vào các hoạt động thực hiện các nội dung giáo dục trẻ phù hợp với chương trình, cụ thể là :+ Tạo điều kiện giúp trẻ được tự do tìm tòi khám phá trong mội trường an toàn theo khả năng và sở thích của mình để trở thành đứa trẻ tò mò, sáng tạo; tự tin và luôn được hạnh phúc vì mọi người xung quanh yêu thương, gần gũi trẻ.+ Chú ý lôi cuốn các thành viên trong gia đình, đặc biệt các thành viên là nam giới : ông, bố, anh, chú, bác tham gia vào việc chăm sóc và dạy trẻ.+ Coi trọng giáo dục giới tính cho trẻ.Coi trọng việc phát hiện, can thiệp sớm và giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật. Đối với trẻ lứa tuổi mầm non, vấn đề phát hiện sớm sự phát triển không bình thường là cực kì quan trọng. Bởi vì chính nhờ có sự phát hiện sớm mà nhiều khuyết tật của trẻ có thể được bù đắp và thích nghi, có khi tiến tới bình thường nếu được sự giúp đỡ kịp thời và đúng đắn.Nhà trường cần cung cấp và hoặc giới thiệu cho các bậc cha mẹ trẻ biết các mốc phát triển bình thường của trẻ, và những vấn đề cần lưu ý trong sự phát triển của trẻ để có thể phát hiện và can thiệp sớm.- Phối hợp với nhà trường trong việc tổ chức ngày lễ, ngày hội, tổ chức ngày sinh nhật cho trẻ,…- Tạo môi trường an toàn về tình cảm cho trẻ : Đối với trẻ, lần đầu tiên đến lớp mẫu giáo thì đó là một sự khó khăn lớn đối với trẻ cũng như đối với bà mẹ. Bởi vì ở nhà mẹ con gắn bó nhau gần như suốt ngày, còn khi đến trường, đứa trẻ phải vào một môi trường hòan tòan mới. Vì vậy, giáo viên cần tư vấn cho bố mẹ, các thành viên của gia đình biết cách chuẩn bị cho trẻ tiếp nhận sự thay đổi đó để tránh cho trẻ bị stress. Ở lớp, cô giáo cần tạo môi trường làm sao cho trẻ cảm thấy lớp cũng như ở nhà, khuyên các bà mẹ không nên để lộ sự lo âu, quá lưu luyến khi tạm biệt trẻ ở trường,…Lúc về nhà, bố mẹ nên lắng nghe những câu chuyện của trẻ về trường lớp, các bạn hoặc hỏi han trẻ về những gì đã xảy ra ở lớp, cố gắng động viên và khuyến khích trẻ để tạo cho trẻ cảm giác tự tin khi đến lớp. Gia đình cũng cần thiết phải trao đổi với giáo viên những đặc điểm riêng của con mình, ví dụ như thói quen ăn uống, sức khỏe, cá tính…để giáo viên có biện pháp chăm sóc – giáo dục phù hợp.1.3. Phối hợp kiểm tra đánh giá công tác chăm sóc – giáo dục trẻ của trường/ lớp mầm non- Tham gia cùng với ban giáo hiệu nhà trường kiểm tra đánh giá chất lượng chăm sóc – giáo dục :+ Theo dõi để phát hiện những tiến bộ, thay đổi, những biểu hiện bất thường…của trẻ diễn ra hằng ngày, trao đổi kịp thời để giáo viên có sự điều chỉnh trong nội dung và phương pháp chăm sóc – giáo dục trẻ.+ Tham gia đóng góp ý kiến với nhà trường về chương trình và phương pháp chăm sóc – giáo dục trẻ. Đề xuất nhà trường hướng dẫn các bậc cha mẹ thực hiện việc chăm sóc – giáo dục trẻ ở gia đình có hiệu quả hơn.- Đóng góp ý kiến về các mặt khác nhau như : môi trường trường học, cơ sở vật chất, trang thiết bị, đồ dùng đồ chơi của nhóm/ lớp…Thái độ, tác phong, hành vi ứng xử,… của giáo viên và nhân viên trong trường với trẻ và phụ huynh.1.4. Tham gia xây dựng cơ sở vật chất- Tham gia lao động vệ sinh trường lớp, trồng cây xanh, làm đồ dùng, đồ chơi cho trẻ.- Đóng góp xây dựng, cải tạo trường/ nhóm, lớp, công trình vệ sinh,…theo quy định và theo thỏa thuận.- Đóng góp những hiện vật cho nhóm/ lớp hoặc trường mầm non như : bàn, ghế, thang leo, cầu trượt, các vật liệu cho trẻ thực hành… 2. Hình thức phối hợp của nhà trường với gia đình- Qua bảng thông báo hoặc qua góc “tuyên truyền cho cha mẹ” của nhà trường hoặc tại mỗi nhóm lớp : thông tin tuyên truyền tới phụ huynh các kiến thức chăm sóc – giáo dục trẻ hoặc thông báo về nội dung hoạt động , các yêu cầu của nàh trường đối với gia đình, hoặc nhữung nội dung mà gia đình cần phối hợp với cô giáo trong việc thực hiện chương trình chăm sóc giáo dục trẻ.- Trao đổi thường xuyên, hằng ngày trong các giờ đón, trả trẻ.- Tổ chức họp phụ huynh định kì ( 3 lần/1 năm) để thông báo cho gia đình những công việc, thảo luận về các hình thức phối hợp giữa gia đình và nhà trường ( họp đầu năm) hoặc kết hợp phổ biến kiến thức chăm sóc – giáo dục trẻ cho cha mẹ.- Tổ chức những buổi sinh hoạt, phổ biến kiến thức chăm sóc giáo dục trẻ theo chuyên đề đặc biệt hoặc khi có dịch bệnh.- Thông qua các đợt kiểm tra sức khỏe của trẻ.- Thông qua các hội thi, hoạt động văn nghệ.- Cán bộ, giáo viên đến thăm trẻ tại nhà.- Hòm thư cha mẹ.- Phụ huynh tham quan hoạt động của trường mầm non.- Thông qua các phương tiện thông tin đại chúng ( đài truyền hình, truyền thanh,.. ). 3. Một số công việc giáo viên cần làm để thu hút sự tham gia, phối hợp của cha mẹĐể tạo sự tin tưởng và thu hút sự tham gia của phụ huynh vào các hoạt động chăm sóc giáo dục trẻ của lớp và của nhà trường, giáo viên cần phải :- Lắng nghe ý kiến của cha mẹ trẻ, chủ động xây dựng mối quan hệ tốt với phụ huynh. Sẵn sàng tư vấn và giúp đỡ các kiến thức chăm sóc – giáo dục trẻ ở trường bằng nhiều hình thức khác nhau như : Họp phụ huynh, bảng thông báo, góc trao đổi với phụ huynh… Ví dụ : Trước ngày tiếp nhận trẻ vào trường, cần có những hướng dẫn cho bố mẹ, giới thiệu những hoạt động trong ngày ở trường của giáo viên và của trẻ.- Nếu trẻ lần đầu tiên đến lớp, cô giáo cần trao đổi cụ thể về chế độ sinh hoạt của trẻ ở trường, nắm bắt những thông tin, đặc điểm của trẻ, cho bố mẹ làm quen trẻ với lớp, với các bạn và cô giáo. Thời gian đầu có thể cho bố mẹ vào lớp chơi cùng trẻ, đón trẻ về sớm, có thể cho trẻ mang theo đến lớp những đồ chơi ưu thích mà trẻ thường chơi ở nhà để tránh sự hụt hẫng ban đầu.- Liên lạc thường xuyên với gia đình để tìm hiểu sinh hoạt của trẻ ở gia đình, thông tin cho cha mẹ trẻ biết về tình hình của trẻ ở lớp, những thay đổi của trẻ nếu có để kịp thời có biện pháp tác động chăm sóc – giáo dục phù hợp.- Cần thống nhất với các bậc cha mẹ về nội quy, các hình thức và biện pháp phối hợp giữa phụ huynh và nhà trường trong từng giai đoạn và cả năm học.- Trong quá trình phối hợp với các bậc cha mẹ, giáo viên cần căn cứ vào điều kiện và hoàn cảnh cụ thể của từng gia đình để có hình thức phối hợp phù hợp và mang lại hiệu quả cao nhất.- Trong khi lập kế hoạch của chủ đề, kế hoạch tuần, giáo viên cần phải đưa nội dung phối hợp với gia đình vào kế hoạch, cần nêu những yêu cầu cụ thể về vấn đề cần phối hợp với gia đình để thực hiện chủ đề đó. Ví dụ : Từ ngày ….đến ngày…..cần phụ huynh đóng góp vật liệu : giấy báo cũ, bìa, cây, hạt,…; ở nhà, phụ huynh đọc cho trẻ nghe thơ, truyện về gia đình, cô giáo,…; Phụ huynh tạo điều kiện cho trẻ củng cố kĩ năng rửa tay, đánh răng, rửa mặt,…Những yêu cầu này giáo viên nên thông báo cho phụ huynh trong giờ đón, trả trẻ và ở góc “tuyên truyền cho cha mẹ”. Sau một thời gian đưa ra yêu cầu đối với phụ huynh, giáo viên có thể đưa ra một số thông tin : thông báo danh sách những phụ huynh đã thực hiện yêu cầu, hoặc nhắc lại yêu cầu với một số phụ huynh. Khi đánh giá sau chủ đề, giáo viên phải có phần nhận xét về công tác phối hợp với gia đình phục vụ cho việc thực hiện chủ đề ( những gì đã thực hiện được, còn tồn tại gì, có gì cần rút kinh nghiệm, hướng giải quyết ). 4. Phối hợp giữa gia đình và nhà trường trong vấn đề chăm sóc – giáo dục trẻ khuyết tật- Nhà trường, giáo viên cần cung cấp hoặc giới thiệu cho các bậc cha mẹ biết các mốc phát triển bình thường của trẻ và những vấn đề cần lưu ý trong sự phát triển của trẻ để có thể phát hiện và can thiệp sớm khi thấy trẻ có những biểu hiện không bình thường.- Đối với những gia đình có trẻ khuyết tật cần nói rõ để các bậc cha mẹ hiểu rằng : Cha mẹ không nên che giấu khuyết tật của con mình mà nên mạnh dạn và thẳng thắn trao đổi với giáo viên về những hạn chế của trẻ. Gia đình nên cho trẻ đến học lớp mẫu giáo hòa nhập để tạo cơ hội cho trẻ được giao tiếp với những người xung quanh. Bố mẹ nên cùng giáo viên giúp đỡ trẻ khắc phục những thói quen không tốt, trong những trường hợp cần thiết, có thể cùng giáo viên tìm đến tư vấn của các nhà chuyên môn để được giúp đỡ. Cần giải thích để phụ huynh biết rằng : Nguy cơ lớn nhất của khuyết tật xảy ra ở tuổi tiền học đường là nó có thể dẫn đến sự ngưng trệ quá trình phát triển bình thường, do trở ngại gây ra đối với khả năng thích nghi của trẻ khuyết tât và sự hạn chế trầm trọng trẻ tiến tới sự thành thục và độc lập. Đa số trẻ khuyết tật có khả năng thích nghi hoặc có thể được phục hồi hoặc bù trừ nếu được phát hiện sớm và có biện pháp xử lí thích hợp.Chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ trong trường mầm non phụ thuộc nhiều vào sự tham gia đóng góp của gia đình trẻ. Vì vậy, trong quá trình giáo dục, nhà trường và giáo viên cần phải có sự phối hợp chặt chẽ với gia đình bằng nhiều nội dung, hình thức phong phú để tạo điều kiện cho công tác chăm sóc – giáo dục trẻ có hiệu quả.

Mẫu giáo bé - 3 tuổi

GIÁO DỤC MẦM NON 3 ĐẾN 4 TUỔI PHẦN MỘT MỤC TIÊU GIÁO DỤC VÀ HƯỚNG DẪN THỰC HIỆN CHẾ ĐỘ SINH HOẠT A – MỤC TIÊU GIÁO DỤC CUỐI 3 TUỔI I – PHÁT TRIỂN THỂ CHẤT- Cân nặng và chiều cao nằm trong kênh A, cụ thể :Trẻ trai : Cân nặng đạt 12,9 – 20,8 kg → 16,7 ± 3,8 kg.Chiều cao đạt 94,4 – 111,5 cm → 102,9 ± 8,5 cm.Trẻ gái : Cân nặng đạt 12,6 – 20,7 kg → 16,0 ± 3,4 kg.Chiều cao đạt 93,5 – 109,6 cm →101 ± 7,1 cm.- Đi , chạy phối hợp chân tay nhịp nhàng.- Giữ được thăng bằng trên một chân- Ném xa 2m bằng hai tay.- Cầm kéo cắt- Rửa tay, lau mặt, đánh răng, cởi quần áo có sự giúp đỡ.- Cầm được bình rót nước vào cốc.- Nhận biết được một số vật dụng và nơi nguy hiểm. II – PHÁT TRIỂN NHẬN THỨC- Thích tìm hiểu, khám phá đồ vật và hay đặt các câu hỏi : Ai đây? Cái gì đây? ….- Nói được một vài đặc điểm nổi bật của sự vật, hiện tượng quen thuộc.- Nhận biết được sự thay đổi rõ nét của sự vật, hiện tượng.- Nhận biết được tay phải, tay trái của bản thân.- Đếm được trong phạm vi 5.- Nhận biết được sự khác nhau về kích thước của 2 đối tượng.- Gọi đúng tên hình tròn, hình vuông, hình tam giác.- Nhận biết một số nghề phổ biến, gần gũi.- Biết họ và tên của bản thân, tên của người thân trong gia đình, tên trường, lớp mầm non. III – PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ- Nghe hiểu được lời nói trong giao tiếp đơn giản.- Diễn đạt nhu cầu, mong muốn để người khác hiểu.- Trả lời được một số câu hỏi của người khác.- Kể lại chuyện dựa theo câu hỏi. IV – PHÁT TRIỂN TÌNH CẢM XÃ HỘI- Thích chơi cùng bạn, không tranh giành đồ chơi.- Có biểu hiện quan tâm đến người thân.- Cảm nhận được một số trạng thái cảm xúc của người khác và có biểu lộ phù hợp .- Chấp nhận yêu cầu và làm theo chỉ dẫn đơn giản của người khác.- Biết chào hỏi, cảm ơn, xin lỗi, xin phép.- Biết bỏ rác đúng nơi quy định, cất dọn đồ dùng, đồ chơi.- Cố gắng tự thực hiện các công việc được giao. V – PHÁT TRIỂN THẨM MĨ - Trẻ bộc lộ cảm xúc trước vẻ đẹp của các sự vật, hiện tượng xung quanh và các tác phẩm nghệ thuật gần gũi.- Trẻ thích hát, nghe hát, nghe nhạc.- Biết hát kết hợp với vận động đơn giản : nhún nhảy, giậm chân, vỗ tay…- Biết sử dụng màu sắc, đường nét, hình dạng tạo ra các sản phẩm đơn giản.- Biết giữ gìn sản phẩm. B – HƯỚNG DẪN THỰC HIỆN CHẾ ĐỘ SINH HOẠT I – NGUYÊN TẮC THỰC HIỆN Chế độ sinh hoạt là sự phân bổ hợp lí về thời gian và các họat động trong ngày ở trường mầm non nhằm đáp ứng nhu cầu về tâm lí – sinh lí của trẻ, qua đó giúp trẻ hình thành thái độ sống, nền nếp, thói quen và những kĩ năng sống tích cực.Tùy theo điều kiện thực tế địa phương, tùy theo mùa có thể điều chỉnh thời gian biểu cho phù hợp, nhưng khi thực hiện cần đảm bảo các nguyên tắc sau :1. Đảm bảo tính khoa học, hợp lí, vừa sức, phù hợp với nhjp sinh học của trẻ theo lứa tuổi và cá nhân trẻ.2. Nội dung họat động một ngày cần phong phú đa dạng, gần gũi với cuộc sống thực của trẻ , đáp ứng mục tiêu phát triển của trẻ.3. Phân phối thời gian thích hợp và có sự cân bằng giữa các hoạt động tĩnh và động, giữa hoạt động trong lớp và ngoài trời, giữa hoạt động chung cả lớp và hoạt động theo nhóm , cá nhân.4. Đảm bảo trình tự hoạt động được lặp đi lặp lại , nhằm tạo nền nếp và hình thành những thói quen tốt ở trẻ.5. Đảm bảo cho mọi trẻ được hoạt động tích cực và phù hợp với đặc điểm riêng của từng trẻ, tránh sự đồng loạt, gò bó, cứng nhắc.6. Đảm bảo sự linh hoạt, mềm dẻo, nhằm đáp ứng các nhu cầu của trẻ đang trong thời kì lớn lên và phát triển, phù hợp với điều kiện từng vùng miền, địa phương.II – GỢI Ý THỜI GIAN BIỂU  PHẦN HAI HƯỚNG DẪN THỰC HIỆN NUÔI DƯỠNG VÀ CHĂM SÓC SỨC KHỎE A – TỔ CHỨC ĂN, NGỦ I – TỔ CHỨC ĂN1. Số lượng và chất lượng bữa ăna) Nhu cầu năng lượngNhu cầu năng lượng một ngày của trẻ ở độ tuổi này trung bình từ 1400 – 1600 Kcal, chia làm 4 – 5 bữa. Trong thời gian ở trường mầm non, trẻ cần được ăn tối thiểu một bữa chính và một bữa phụ. Nhu cầu về năng lượng chime 50% – 60% nhu cầu năng lượng cả ngày, khoảng 700 – 960 Kcal/trẻ/ngày.Trong đó: bữa chính : 500 – 700Kcal/trẻ, bữa phụ : 200 – 260Kcal/trẻ.b) Tỉ lệ giữa các chất sinh năng lượng- Đối với trẻ bình thường:+ Chất đạm (Protit) cung cấp khoảng 12 – 15% năng lượng khẩu phần.+ Chất béo (Lipit) cung cấp khoảng 15 – 25% năng lượng khẩu phần.+ Chất bột (Gluxit) cung cấp khoảng 60 – 73% năng lượng khẩu phần.Ví dụ :+ Chất đạm (Protit) cung cấp 13% năng lượng khẩu phần+ Chất béo (Lipit) cung cấp 25% năng lượng khẩu phần.+ Chất bột (Gluxit) cung cấp 62% năng lượng khẩu phần.Tỉ lệ giữa các chất sinh năng lượng nên đảm bảo 100% và trong phạm vi của từng chất.- Đối với trẻ béo phì, năng lượng do chất béo và chất bột đường cung cấp nên duy trì ở mức tối thiểu (tức là chất béo cung cấp 15% và chất bột đường cung cấp 60% năng lượng khẩu phần), đồng thời tăng cường cho trẻ ăn nhiều các loại rau, củ, quả và tích cực vận động.c) Lượng thực phẩm- Mỗi bữa chính trẻ ăn 300 – 400g kể cả cơm và thức ăn (khoảng 2 bát) với đủ năng lượng và các chất dinh dưỡng cần thiết như đạm, béo, đường, muối khoáng và sinh tố. Các chất dinh dưỡng này có nhiều trong gạo, đậu, đỗ, thịt, cá, trứng, tôm, rau, đậu, lạc, vừng, dầu mỡ, các loại rau, củ, quả… và những loại thực phẩm khác, sẵn có tại địa phương.- Lượng thực phẩm cần cho một trẻ hằng ngày ở trường (một bữa chính và một bữa phụ). PHẦN BA HƯỚNG DẪN THỰC HIỆN NỘI DUNG GIÁO DỤ C Chương I PHÁT TRIỂN THỂ CHẤT NỘI DUNG 1 : GIÁO DỤC DINH DƯỠNG – SỨC KHỎE I – HƯỚNG DẪN CHUNG1. Nội dunga) Nhận biết, làm quen với các nhóm thực phẩm và dạng chế biếnLàm quen với một số thực phẩm thôngv thường, sẵn có ở địa phương- Gọi tên, nhận biết thực phấm sẵn có tại địa phương.- Nhận biết và phân biệt thực phẩm có nguồn gốc động vật và thực phẩm có nguồn gốc thực vật :+ Thực phẩm có nguồn gốc động vật : Thịt, cá, trứng gia cầm, sữa và các chế phẩm tôm, cua, trai, ốc, hến, mỡ ăn…+ Thực phẩm có nguồn gốc thực vật : gạo, mía, đậu đỗ, lạc, vừng, dầu ăn, rau, củ, quả các loại…- Các thực phẩm khác nhau về màu sắc, kích thước, hình dạng, mùi vị, tính chất.Các dạng chế biến của thực phẩm : xào, nấu, rán, luộc, kho, muốiv dưa…và cách ăn : ăn sống, ăn chín, muối dưa, đóng hộp.b) Lợi ích của ăn uống đối với sức khỏe, con người cần ăn uống đầy đủ, hợp lí, sạch sẽ, có thái độ tích cực trong ăn uốngLợi ích của thực phẩm đối với sức khỏe con ngườiv- Thực phẩm cung cấp nhiều chất bổ, giúp cơ thể khỏe mạnh. Mỗi loại thực phẩm có giá trị dinh dưỡng riêng, vì vậy cần ăn nhiều loại thực phẩm khác nhau.- Cần ăn, uống đầy đủ, hợp lí và sạch sẽ để cơ thể sẽ : mau lớn, ít ốm đau, da dẻ hồng hào, mắt sáng, nhanh nhẹn và để “lớn lên”, làm việc, vui chơi và học tập. Không nên ăn quá nhiều để luôn khỏe mạnh.Dạy trẻ biết cách chọn thức ăn sạch sẽv và bảo quản thực phẩm một cách đơn giản : không nên ăn rau quả, dập nát, thức ăn ôi thiu. Thức ăn không ăn hết phải được cất đậy cẩn thận, không để ruồi đậu, kiến bâu…Các bữa ăn hàng ngàyv- Dạy trẻ biết các bữa ăn trong ngày, thức ăn trong các bữa ăn đó là gì, các bữa ăn trong ngày khác nhau thế nào (số lượng, dạng chế biến…). Kể tên thức ăn ngày lễ, tết.Ví dụ 1 : Hằng ngày, trẻ ăn 3 – 5 bữa, ở trường trẻ ăn 1 bữa chính và bữa phụ, bữa chính ăn 2 bát, bữa phụ ăn 1 bát.Ví dụ 2 : Thức ăn đặc trưng trong ngày sinh nhật là bánh sinh nhật (gatô), ngày tết là bánh chưng, trung thu là bưởi, mam ngũ quả…- Dạy trẻ biết mỗi bữa cần ăn đủ các loại thức ăn khác nhau, cần ăn hết suất.- Dạy trẻ biết ăn uống sạch sẽ (thực hiện vệ sinh an toàn thực phẩm) : ăn thức ăn đã nấu chín, uống nước đã được đun sôi, ăn chậm, nhai kĩ, không làm rơi vãi thức ăn…- Tập cho trẻ có thái độ vui lòng chấp nhận, thử các thức ăn mới và ăn các loại thức ăn khác nhau, có hứng thú trong ăn uống, hình thành ở trẻ sở thích, thói quen ăn uống tốt. Không kén chọn thức ăn. PHẦN BỐN HƯỚNG DẪN LẬP KẾ HOẠCH VÀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN NỘI DUNG GIÁO DỤC A – XÂY DỰNG KẾ HOẠCH GIÁO DỤC NĂM HỌCI – NHỮNG CĂN CỨ XÂY DỰNG GIÁO DỤC Ban giám hiệu chịu trách nhiệm xây dựng kế hoạch năm học dựa trên các căn cứ sau :- Mục tiêu và nội dung chương trình giáo dục mẫu giáo đã quy định trong Chương trình giáo dục mầm non Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành.- Thời gian quy định trong năm học- Điều kiện cơ sở vật chất và các nguồn lực khác của địa phương và trường mầm non.- Nhu cầu và trình độ phát triển thực tế của trẻ trong lớp mẫu giáo. II – CÁCH THỨC XÂY DỰNG KÉ HOẠCH GIÁO DỤC Trong năm học, những nội dung quy định trong 5 lĩnh vực giáo dục của chương trình được cung cấp cho trẻ dưới hình thức các chủ đề. Từ chủ đề lớn, khi thực hiện giáo viên có thể phát triển, chia thành các chủ đề nhỏ, hình thành mảng lưới liên kết các nội dung và các hoạt động giáo dục lại với nhau.Khi xây dựng và thực hiện chủ đề, giáo viên cần lưu ý một số chủ đề cần thỏa mãn 4 yêu cầu sau :1. Cần tính đến nhu cầu, hứng thú của trẻ và những kiến thức bắt nguồn từ thực tế cuộc sống gần gũi với trẻ;2. Cần được thể hiện trong các hoạt động của trường;3. Cần được thể hiện ở sự lựa chọn và cung cấp các đồ dùng học liệu ở các khu vực chơi trong lớp;4. Cần được tiến hành tối thiểu trong một tuần, đảm bảo có sự lặp lại và mở rộng các cơ hội học cho trẻ các độ tuổi khác nhau (mẫu giáo bé, nhỏ, lớn).Trước tiên, Ban giám hiệu nhà trường xây dựng kế hoạch chung cho cả năm học, trong đó dự kiến các chủ đề, phân phối quỹ thời gian cho từng chủ đề cho từng khối lớp (lứa tuổi) và phổ biến hướng dẫn tổ chức thực hiện cho giáo viên trong trường.Dựa vào kế hoạch năm học, giáo viên xây dựng kế hoạch cụ thể hàng tháng và hàng tuần cho lớp mình, bao gồm xác định trên chủ đề cho tháng đó, xác định mục tiêu cần đạt được nên trẻ cho chủ đề sẽ học, lựa chọn các hoạt động, sắp xếp lịch tuần, chuẩn bị đồ dùng dạy học và tiến hành tổ chức các hoạt động giáo dục hằng ngày theo kế hoạch dự địnhGợi ý các chủ đề trong năm học   PHẦN NĂM HƯỚNG DẪN THỰC HIỆN ĐÁNH GIÁ Đánh giá là hoạt động thu nhập thông tin. Phân tích và so sánh với mục tiêu chương trình nhằm định hướng, điều chỉnh chương trình chăm sóc- giáo dục trẻ. Hoạt động đánh giá có thể do giáo viên tiến hành để tổ chức và điều chỉnh hoạt động chăm sóc- giáo dục cho phù hợp với trẻ. Hoạt động đánh giá còn có thể do các cấp lí giáo dục (Bộ, Sở các phòng Giáo dục – Đào tạo và Ban giám hiệu nhà trường ) tiến hành để giám sát, thanh tra việc thực hiện chương trình giáo dục trẻ ở các trường mẫu giáo, mầm non.Vì vậy, căn cứ vào đối tượng tham gia đánh giá (giáo viên hay cán bộ lí giáo dục) việc đánh giá ở mẫu giáo có thể chia ra làm hai loại:- Đánh giá trẻ trong quá trình chăm sóc giáo dục- Đánh giá việc thực hiện chương trình giáo dục trẻ A- ĐÁNH GIÁ TRẺ TRONG QUÁ TRÌNH CHĂM SÓC – GIÁO DỤC I – MỤC ĐÍCHXác định nhu cầu, hứng thú và khả năng của từng trẻ để giáo viên có thể lựa chọn những tác động chăm sóc – giáo dục thích hợpĐồng thời,giáo viên có thể nhận ra được những điểm mạnh , điểm yếu trong quá trình giáo dục của mình để từ đó điều chỉnh việc tổ chức hoạt động giáo dục sao cho phù hợp với trẻ.II – NỘI DUNGGiáo viên đánh giá trẻ hằng ngày trong quá trình chăm sóc-giáo dục có thể chia làm hai loại:1. Đánh giá trẻ trong các hoạt động hằng ngàyGiáo viên tiến hành đánh giá trẻ hằng ngày trong quá trình chăm sóc- giáo dục trẻ.Những hoạt động trong ngày của trẻ mẫu giáo bao gồm :hoạt động chơi, hoạt động học, hoạt động lao động.Hằng ngày,thông qua những hoạt động trên, giáo viên chú ý phát hiện ra những trẻ có các biệu hiện tích cực hoặc tiêu cực (có khả năng xếp hình hay vẽ rất tốt hay tỏ ra mệt mỏi chán ăn vv..) trong nhóm/lớp để có những hoạt động chăm sóc –giáo dục thích hợp với các trẻ đó (hoặc trao đổi với phụ huynh để có sự phối hợp giữa nhà trường với gia đình trong việc chăm sóc-giáo dục trẻ).Đồng thời qua những biểu hiện của trẻ,giáo viên có thể nhận ra những điểm mạnh, điểm yếu trong quá trình chăm sóc-giáo dục của mình để từ đó điều chỉnh việc tổ chức, việc chăm sóc- giáo dục trẻ cho phù hợp hơn.* Các nội dung cần đánh giá:- Những biểu hiện về tình trạng sức khỏe của trẻ.- Cảm xúc, thái độ và hành vi của trẻ trong các hoạt động.- Những kiến thức và kỹ năng của trẻ.* Dựa trên kết quả đánh giá nhanh hằng ngày, giáo viên xác định:- Những trẻ cần lưu ý đặc biệt và các biện pháp chăm sóc –giáo dục riêng phù hợp.- Những vấn đề cần lưu ý trong việc tổ chức hoạt động chăm sóc –giáo dục trẻ và những thay đổi phù hợp trong những ngày sau.Mỗi nhóm mỗi lớp cần lập Hồ sơ cá nhân cho từng trẻ để theo dõi sự tiến bộ của các trẻ trong lớp (xem cách làm ở phần 3 – phương pháp sau đây)2. Đánh giá việc thực hiện chủ đềViệc đánh giá chủ đề này giúp giáo viên nhìn nhận lại những việc mình và lớp mình đã làm được và chưa làm được trong chủ đề; từ đó cải tiến hay điều chỉnh các hoạt động tiếp theo, xây dựng kế hoạch của chủ đề sau được tốt hơn.Giáo viên sử dụng phiếu Đánh giá việc thực hiện chủ đề để đánh giá những vấn đề đã làm được và chưa làm được trong chủ đề như:- Mục đích- Nội dung- Tổ chức hoạt động- Những vấn đề khác như:tình trạng sức khỏe của các trẻ trong lớp, tổ chức môi trường giáo dục, tài liệu, đồ dùng, đồ chơi …..Từ đó, giáo viên lưu ý để có thể triển khai các chủ đề khác được tốt hơn.Dưới đây là mẫu phiếu đánh giá việc thực hiện chủ đề (đã được chỉnh sửa sau những góp ý của các tỉnh năm học 2006-2007): PHẦN SÁUSỰ THAM GIA, PHỐI HỢP CỦA GIA ĐÌNH VÀ CỘNG ĐỒNG VỚI TRƯỜNG MẦM NON TRONG CHĂM SÓC- GIÁO DỤC TRẺ Việc chăm sóc và giáo dục trẻ em được chia sẻ trách nhiệm giữa gia đình,các nhà giáo dục và cộng đồng. Trường mầm non chia sẻ trách nhiệm với gia đình và cộng đồng để thúc đẩy và tạo điều kiện tối ưu cho việc chăm sóc và giáo dục trẻ em. I – SỰ PHỐI HỢP GIỮA TRƯỜNG MẦM NON VÀ GIA ĐÌNH 1.Nội dung phối hợp giữa trường mầm non với gia đìnhĐể góp phần nâng cao chất lượng chăm sóc- giáo dục trẻ ở trường mầm non, nhà trường và nhóm lớp cần tạo điều kiện để gia đình có thể tham gia vào nhiều hoạt động khác nhau. Có thể nêu một số nội dung phối hợp sau đây:a) Phối hợp thực hiện chương trình chăm sóc bảo vệ sức khỏe cho trẻ- Tham gia tổ chức khám sức khỏe, theo dõi sức khỏe cho trẻ theo định kì.- Giáo viên và cha mẹ cùng chia sẻ, trao đổi kiến thức chăm sóc sức khỏe cho trẻ.- Phòng chống suy dinh dưỡng và béo phì cho trẻ, có kế hoạch và biện pháp chăm sóc đối với trẻ suy dinh dưỡng và trẻ có khiếm khuyết.- Đóng góp tiền ăn, các hiện vật theo yêu cầu của nhà trường.b) Phối hợp thực hiện chương trình giáo dục trẻ- Tham gia xây dựng kế hoạch giáo dục của nhà trường,của nhóm, lớp.- Cha mẹ tham gia vào các hoạt động thực hiện các nội dung giáo dục trẻ phù hợp với chương trình, cụ thể là:+ Tạo điều kiện giúp trẻ được tự do tìm tòi khám phá trong môi trường an toàn theo khả năng và sở thích của mình để trở thành đứa trẻ tò mò, sáng tạo; tự tin và luôn được hạnh phúc vì mọi người xung quanh yêu thương, gần gũi trẻ.+ Chú ý lôi cuốn các thành viên trong gia đình, đặt biệt các thành viên là nam giới ông, bố, anh, chú, bác tham gia vào việc chăm sóc và dạy trẻ.+ Coi trọng giáo dục giới tính cho trẻ.Coi trọng việc phát hiện,can thiệp sớm và giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật. Đối với trẻ lứa tuổi mầm non, vấn đề phát hiện sớm sự phát triển không bình thường là cực kì quan trọng. Bởi vì chính nhờ có sự phát hiện sớm mà nhiều khuyết tật của trẻ có trể được bù đắp và thích nghi, có khi tiến tới bình thường nếu được giúp đỡ kịp thời và đúng đắn. Nhà trường cần cung cấp hoặc giới thiệu cho các bậc cha mẹ trẻ biết các mốc phát triển bình thường của trẻ và những vấn đề cần lưu ý trong sự phát triển của trẻ để có thể phát hiện và can thiệp sớm.- Phối hợp với nhà trường trong việc tổ chức ngày lễ, ngày hội, tổ chức ngày sinh nhật cho trẻ…- Tạo môi trường an toàn về tình cảm cho trẻ: Đối với trẻ, nếu lần đầu tiên đến lớp mẫu giáo thì đó là một sự khó khăn lớn đối với trẻ cũng như đối với bà mẹ. Bởi vì ở nhà mẹ con gắn bó nhau gần như suốt ngày, còn khi đến trường, đứa trẻ phải vào một môi trường hoàn toàn mới. Vì vậy, giáo viên cần tư vấn cho bố mẹ, các thành viên của gia đình biết cách chuẩn bị cho trẻ tiếp nhận sự thay đổi đó để tránh cho trẻ bị stress. Ở lớp, cô giáo cần tạo môi trường làm sao cho trẻ cảm thấy lớp cũng như ở nhà, khuyên các bà mẹ không nên để lộ sự lo âu, quá lưu luyến khi tạm biệt trẻ ở trường…Lúc về nhà, bố mẹ nên lắng nghe những câu chuyện của trẻ về trường lớp, các bạn hoặc hỏi han trẻ những gì đã xảy ra ở lớp, cố gắng động viên và khuyến khích trẻ để tạo cho trẻ cảm giác tự tin khi đến lớp. Gia đình cũng cần thiết phải trao đổi với giáo viên những đặc điểm riêng của con mình , ví dụ như thói quen ăn uống, sức khỏe, cá tính …để giáo viên có biện pháp chăm sóc- giáo dục phù hợp.  
BÍ QUYẾT ĐỂ “ĐĂNG NHẬP” THÀNH CÔNG ĐẠI HỌC QUỐC TẾ